Quan Thế Âm Bồ tát là ai? Nguồn gốc và ý nghĩa hình tượng 2022

Quan Thế Âm Bồ tát là ai? Nguồn gốc và ý nghĩa hình tượng 2022

- in Minh Triết Thiền Định
61

Hãy cùng Muôn Màu theo dõi nội dung hay nhất về Quan Thế Âm Bồ tát là người nào? Xuất xứ và ý nghĩa hình tượng dưới đây nhé:

Quan Thế Âm Bồ tát là người nào? Xuất xứ và ý nghĩa hình tượng


Hình như Quan Thế Âm là vị Bồ tát được tôn kính nhất trong các truyền thống Phật giáo. Ngài biểu trưng cho lòng tư bi lớn lao của chư Phật. Thành ra, hàng triệu Phật tử trên khắp toàn cầu thường xuyên nguyện cầu Ngài để mong được gia hộ và mang đến bình yên trong cuộc sống.

Mẹ Quan Âm là tên gọi thân yêu của nhiều Phật tử lúc nói về vị Bồ tát từ bi này. Cùng Hoa Sen Phật mày mò về vị Bồ tát tầm thường nhất này nhé!

Quan Thế Âm Bồ tát là người nào?

Quan Thế Âm Bồ tát (tiếng Phạn: Avalokitesvara Bodhisattva) là 1 vị Bồ tát trình bày lòng từ bi của tất cả chư Phật. Ngài là 1 trong những vị Bồ Tát được tôn kính phổ quát trong Phật Giáo Đại Thừa. Ở Trung Quốc và những nước tác động nền văn hoá này, Quan Thế Âm thường được mô tả dưới dạng nữ gọi là Guan Yin.

Bồ tát Quan Thế Âm còn được biết với tên gọi khác là Quán Thế Âm. Từ “Quán” ở đây có tức là “quán thấy” tất cả chân lý của vũ trụ phê duyệt phép “nhĩ căn viên thông”. Ngài nghe hiểu rõ hết thảy âm thanh của vũ trụ, những lời khóc than và nguyện cầu của chúng sinh. Thành ra, với lòng từ bi vô hạn, Bồ tát Quán Thế Âm nguyện ko nhập Nát bàn lúc vẫn còn chúng sinh đau buồn và lầm than.

Tuy nhiên, Quan Thế Âm còn được gọi là Padmapani (“Người giữ hoa sen”) hay Lokaczevara (“Chúa tể của toàn cầu”). Trong tiếng Tây Tạng, Bồ Tát Quan Thế Âm được gọi là Chenrezig, và được cho là nhập thể vào Đức Đạt Lai Lạt Ma, Karmapa và các vị Lạt ma khác.

Quan Thế Âm Bồ tát là Bồ tát tuyên trợ đắc lực của Phật A Di Đà ở Tây Phương Cực Lạc, Ngài trình bày lòng Bi, 1 trong 2 dạng Phật tính. Thành ra, danh hiệu của Ngài thường kèm theo từ Đại Bi. Dạng kia của Phật tính là trí óc được Bồ Tát Đại Thế Chí trình bày, bên tay phải của Phật A Di Đà.

Với lòng từ bi vô hạn, Quan Thế Âm trình bày sức mạnh cứu giúp mọi chúng sinh quán tưởng tới mình khi gặp nguy hiểm. Trong dương gian, Quan Thế Âm là vị bảo hộ tránh khỏi tai họa và hay được những người nữ giới ko con cầu tự.

Bồ tát Quan Thế Âm là nam hay nữ?

Lúc tu tập và thực hành Phật pháp, Phật tử ko nên chấp vào hình tướng hay bản lĩnh cứu độ nhưng mà vị Phật hay vị Bồ tát nào ấy mang đến. Vì mỗi vị Phật hay Bồ tát đều đại diện cho những phẩm giá cao quý nhưng mà Phật tử phải tinh tấn tu tập và thực hành để tỉnh ngộ.

Bằng công cụ thiện xảo, các vị Phật và Bồ tát đã hóa thân nhiều dạng hình không giống nhau để phổ độ chúng sinh tùy theo căn cơ mỗi người. Tại Việt Nam và các nước Đông Á thì Bồ tát Quan Thế Âm thường được minh họa dưới dạng hình người nữ giới dễ nhìn và giàu lòng từ bi. Còn trong truyền thống Phật giáo ở Tây Tạng và Nepal thì Bồ tát Quan Âm được minh họa dưới dạng hình nam giới.

Lúc Phật giáo được truyền sang Trung Quốc, các vị tổ sư đã dùng công cụ thiện xảo cải biến hình tượng Bồ tát Quan Thế Âm sang phụ nữ để thích hợp hơn với nền văn hóa. Với hạnh ngộ từ bi quảng đại, Ngài được xem như “Mẹ hiền Quan Thế Âm Bồ tát của chúng sinh”, người luôn chuẩn bị dang rộng vòng tay để cứu khổ cứu nạn lúc chúng sinh cần đến.


5 Phép thần thông của Bồ tát Quan Thế Âm

Theo kinh điển, Quan Thế Âm Bồ tát có 5 thần thông (hay 5 thứ quán) chính cung ứng Ngài trong việc phổ độ chúng sinh. 5 phép thần thông ấy là:

  1. Chân quán: Phát huy hết bản lĩnh của 6 cảm quan, nên Ngài có thể cảm nhận và quán thấy sự thực mọi đau buồn của chúng sinh.
  2. Thanh tịnh quán: Bản lĩnh quán chiếu sự thanh tịnh. Sự quán chiếu trong suốt, sự quán chiếu ko còn bị vô minh, khát ái, chấp thủ và nghiệp hữu làm vẩn đục. Và thanh tịnh quán là quán chiếu để thấy rõ bản thể tĩnh mịch ở nơi mọi sự hiện hữu.
  3. Quảng đại trí óc quán: Bản lĩnh quán chiếu bằng trí óc bao la, chẳng những thấy tự tánh của 5 uẩn là ko, nhưng mà còn thấy tự thân của mỗi uẩn cũng đều là ko, vốn ko có tự tánh.
  4. Từ quán: Bản lĩnh quán chiếu để thực hành hạnh nguyện thương mến bao la, toàn diện và cùng khắp, mang lại sự an lạc cho hết thảy chúng sanh.
  5. Bi quán: Bi Quán là bản lĩnh quán chiếu, để thấy rõ thể tánh chơn như giữa chủ thể cứu độ và nhân vật được cứu độ không hề là 2, chúng thiệp nhập vào nhau và nhất thể.

Truyền thuyết Quan Âm Diệu Thiện ở Việt Nam

Ở Việt Nam ta, Quan Thế Âm cũng được biết tới với truyền thuyết Quan Âm Diệu Thiện. Đây là 1 bài thơ được viết theo thể lục bát nói về 1 vị công chúa đi xuống tóc nhằm hóa độ cho vua cha, người đã gây ra nhiều tội ác.

Vị vua cha này mong cầu sinh được hoàng tử để nối dõi nhưng mà lại sinh ra 1 cô công chúa thứ 3 nên ông rất ân oán hận. Khác hẳn 2 người chị, nàng công chúa này ngày đêm học Phật và có lòng quy y Phật nhưng mà quyết ko lấy chồng.

Sử dụng nhiều mưu mẹo nhưng mà vua cha vẫn chẳng thể ép công chúa hồi tục nên ông đã quyết định xử trảm con gái mình. Ngoài ra, ngay khi ấy bỗng hiện ra 1 con hổ trắng xông ra cõng công chúa đem lại chùa Hương. Diễn ra từ ấy, nàng công chúa tu tập tinh tấn và lấy Pháp danh là Diệu Thiện.

Về phần vua cha, ông bị mắc bệnh hủi chẳng thể chữa được, mắt bị mù và thân thể rệu rã. Nghe tin cha mình bị bạo bệnh, Diệu Thiện sao lúc tu hành đắc đạo đã hy sinh 2 mắt cho cha, cứu độ bố mẹ và 2 chị cùng thành Phật.

Xuất xứ của Quan Thế Âm Bồ tát trong kinh điển

Với lời thề nguyện lớn lao cũng như công đức hóa độ chúng sinh của Ngài, rất nhiều kinh điển đã nhắc đến tới Bồ tát Quan Thế Âm như 1 tỉ dụ tiêu biểu về lòng từ bi và sự tinh tấn trong tu tập. 1 số kinh điển ấy là: Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm, kinh Vô lượng Thọ, Diệu Pháp Liên Hoa kinh, Đại Bát Nhã 3 la mật đa kinh, Ngũ Bách Danh kinh, Đại Phương Quảng Như Lai tạng kinh…

Trong Phật giáo Đại thừa

Theo truyền thống Đại Thừa, Quan Thế Âm Bồ Tát là người đã tiến hành 1 lời thề hoàn hảo để lắng tai những lời nguyện cầu của tất cả chúng sinh trong thời khắc gian khổ, và hoãn việc nhập nát bàn cho tới lúc Ngài cung ứng chúng sanh trên trái đất trong việc đạt được tỉnh ngộ.

Trong Kinh điển Đại Thừa, Quán Thế Âm hiện ra trong Bát Nhã Tâm Kinh (Heart Sutra – Là đồ đệ của vị Phật lịch sử Thích Ca Mâu Ni) và Kinh Pháp Hoa (Lotus Sutra), đặc trưng là chương 25, nhưng mà đôi lúc được gọi là Kinh Quán Thế Âm.

Đặc trưng, trong kinh Bi Hoa có đoạn trình bày lòng từ bi lớn lao của Bồ tát Quan Thế Âm:

Về thuở dĩ vãng lâu xa về trước, Đức Quán Thế Âm là 1 vị hoàng thái tử tên là Bất Huyền, con của vua Vô Tránh Niệm, thời đó có Đức Phật có mặt trên thị trường tên là Bảo Tạng Như Lai. Vua Vô Tránh Niệm hết dạ sùng bái đạo Phật. Vua liền mua đủ lễ phẩm quý báu dâng cúng Phật và chư Tăng trong 3 tháng hạ, vua cũng khuyến khích các quan văn, vương tử, vương tôn, triều đình quyến thuộc theo vua cúng dường.

Hoàng thái tử Bất Huyền tuân hành vua cha, cũng dâng cúng đủ các trân cam mỹ vị, hết dạ thành kính Đức Phật và chúng Tăng trong 3 tháng tương tự. Khi đó, có vị đại thần tên là Bảo Hải, nghĩa là phụ vương của Phật Bảo Tạng, khuyên hoàng thái tử Bất Huyền nên lập nguyện nhờ công đức cúng dường này nhưng mà cầu quả báu Tối cao Bồ đề, ko nên cầu quả ở cõi trời, cõi người này, vì quả báu phước cõi đó là phước báu hữu hạn, dù chúng ta có lên trời rồi, tới lúc hết phước cũng phải sa đọa. Sao bằng đem công đức cúng dường này hướng về quả báu tối cao bồ đề mới là phước báu sống động vĩnh hằng.

Nghe đại thần khuyên tương tự, Hoàng thái tử liền tới trước Phật Bảo Tạng phát đại thệ nguyện: “nguyện xin nhờ công đức cúng dường này cầu quả tối cao bồ đề. Con nguyện xin trong khi tu đạo tự lợi, lợi tha, nếu có chúng sinh nào lâm vào tai nạn, chẳng thể tự cứu chữa được, ko nơi nương nhờ, hễ niệm tới danh hệu con, con liền đủ sức thần thông tới cứu độ ngay. Nếu lời nguyện đó ko thành, con thề ko chứng quả Bồ đề. Con xin phát đại thệ nguyện tu đạo Bồ Tát cho tới tận cùng đời vị lai, trãi qua vô kể kiếp, lúc phụ thân con (vua Vô Tránh Niệm) thành Phật hiệu A Di Đà ở toàn cầu Cực Lạc thì con sẽ làm thị giả phục dịch Ngài cho tới lúc Chánh Pháp Ngài tận diệt con mới chứng quả Bồ đề. Con nguyện xin Đức Thế Tôn và mười phương chư Phật thụ ký cho con tương tự”.

Đức Bảo Tạng Như Lai thọ ký cho hoàng thái tử và nói rằng: “Do quán sát chúng sinh trong vô kể toàn cầu đều vì khổ thân nhưng mà phải chịu quả báu đau buồn nên ngươi phát bi tâm, ngươi lại nguyện quan sát nghe được tiêng kêu cầu đau buồn của trần giới để tới cứu độ. Nay ta thọ ký cho ngươi hiệu là Quán Thế Âm. Ngươi sẽ giáo hoá cho vô lượng chúng sinh thoát khỏi khổ não, khi mà tu đạo, ngươi phải làm mọi Phật sự để ích lợi chúng sinh”.

Do ấy, sau lúc Phật A Di Đà nhập diệt rồi, cõi Cực Lạc sẽ đổi tên là Nhất Thế Trân Bảo Sở Thành Tựu, càng thêm tốt đẹp hơn trước nữa. Lúc đó, đang khi đêm hôm, trong phút giây, tất cả mọi thứ nghiêm trang đều xuất hiện giữa ko trung, tức thời ngươi thành Phật hiệu là “Biến Xuất Nhất Thế Quang Minh Công Đức Sơn Vương Như Lai, vạn thọ tới 9 mươi 6 ức na do tha kiếp. Sau lúc ngươi diệt độ rồi, chánh pháp sẽ còn lưu truyền lại 6 mươi 3 ức kiếp nữa”.

Hoàng thái tử nghe Phật thọ ký rồi, lòng hết sức hoan hỷ và bạch rằng: “như lời nguyện của con được hoàn toàn viên mãn thì đối với con còn hạnh phúc nào bằng. Nay con xin nguyện mười phương chư Phật cũng thọ ký cho con như thế, khiến cho tất cả toàn cầu đều rung rinh như tiếng âm nhạc, người nào nghe cũng được đánh tháo”. Hoàng thái tử bạch rồi, cúi đầu đảnh lễ Đức Phật.

Bấy giờ, các toàn cầu thiên nhiên rung rinh, phát ra tiếng hòa nhã như âm nhạc, người nào nghe cũng thân tâm thanh tịnh, dục vọng ko còn. Tiếp ấy là các Đức Phật trong mười phương toàn cầu cũng đồng thanh thọ ký cho Quán Thế Âm Bồ Tát rằng: “Trong thời kiếp Thiên Trú, ở toàn cầu Tân Đề Lam có đức Bảo Tạng Như Lai có mặt trên thị trường, hoàng thái tử Bất Huyền, con vua Vô Tránh Niệm phát tâm cúng Phật và chúng Tăng 3 tháng. Nhờ công đức đó, trãi qua vô kể kiếp về sau, hoàng thái tử sẽ thành Phật hiệu là “Biến Xuất Nhất Thế Công Đức Sơn Vương Như Lai” ở toàn cầu Trân Bảo Sở Thành Tựu.

Nghe chư Phật thọ ký xong, hoàng thái tử hoan hỷ hết sức. Từ ấy, trãi qua vô kể kiếp về sau, Ngài tinh tấn tu đạo Bồ Tát, cứu độ tất cả chúng sinh, ko bao giờ quên đại bi tâm của Ngài.

Quan Thế Âm là Bồ tát của lòng từ bi, có 6 bề ngoài không giống nhau trong truyền thống Đại Thừa. “Đại bi, lòng từ bi lớn lao, sự can đảm của loài sư tử, ánh sáng phổ thông, vị chỉ đạo giữa các vị thần và nhân loại, và vị đại diện cao cả của Brahman”.

Xem thêm  Luật nhân quả là gì? Góc nhìn khác về luật nhân quả hay nhất

Trong Phật giáo Kim cương thừa

Trong truyền thống Kim Cương Thừa Tây Tạng, Quan Thế Âm được xem là nảy sinh từ 2 nguồn. 1 là nguồn hơi hơi, nơi nhưng mà kiếp trước (kalpa), 1 tu sĩ Phật giáo với lòng từ bi lớn lao đã biến đổi thành Quan Thế Âm trong kiếp này.

Với xuất xứ tối hậu cho rằng, Quán Thế Âm Bồ Tát là biểu lộ tầm thường của lòng từ bi, nên Ngài được xem là 1 “công cụ tư cách” rất thực tiễn cho chúng ta noi theo, dùng cho để mang đến 1 sự hiểu biết tốt hơn về cuộc sống, về tình mến thương giữa con người với con người.

Trong Phật giáo Nguyên thủy

Mặc dầu Phật giáo Nguyên Thuỷ (Theravada) ko thờ bất cứ vị Bồ tát nào của Đại Thừa, nhưng mà Quán Thế Âm lại tầm thường ở Miến Điện, nơi Ngài được gọi là Lokanat, và Thái Lan, nơi Ngài được gọi là Lokesvara.

Góc nhìn các nhà nghiên cứu Phật giáo phương Tây về Quan Thế Âm

Các học giả phương Tây đã ko đạt được sự đồng thuận về xuất xứ và sự tôn kính đối với Quan Thế Âm Bồ Tát. 1 số người cho rằng Quan Thế Âm, cộng với nhiều vị Bồ tát và chư Phật khác trong Phật giáo là 1 bề ngoài vay mượn của Phật giáo Đại Thừa đối với nhiều vị thần trong Ấn Độ giáo.

Họ cho rằng, các vị Bồ tát và rất nhiều chư Phật, đã tạo ra 1 sự tranh chấp đối với thuyết lí Vô ngã của Đức Phật, và là 1 sự tăng trưởng dựa theo ý tưởng của Brahman (Đại ngã – 1 định nghĩa về 1 vị thần tối thượng trong Ấn Độ giáo): Brahma (1 vị thần trong đạo Hindu) hay Lokanātha, “Chúa tể của toàn cầu”.

Ý nghĩa hình tượng của Bồ tát Quan Thế Âm

Bồ tát Quan Thế Âm thường hiện ra trên trời và chiếu hào quang xuống chúng sinh.

Trong các loại tranh tượng về Quan Thế Âm, người ta thấy có 33 dạng, không giống nhau về số đầu, tay và các đặc tính. Thông thường ta thấy tượng Bồ Tát có nghìn tay nghìn mắt, có lúc 11 đầu.

Trên đầu có lúc là tượng A-di-đà, có lúc thì thấy Bồ Tát cầm hoa sen hồng, vì thế nên Quan Thế Âm cũng có tên là Liên Hoa Thủ (người cầm hoa sen) hay nhành dương liễu và 1 bình nước Cam Lộ. Số tay của Bồ Tát biểu lộ bản lĩnh cứu độ chúng sinh trong mọi cảnh huống.

Quan Thế Âm Bồ Tát có “hào quang” hình tròn trên đầu cho thấy sự vô thường và lớn lao nhất. Điều này có thể cho thấy tầm quan trọng của sự lớn lao và sự hiến dâng của Quan Thế Âm đối với toàn cầu. Hình ảnh này sẽ được sử dụng chủ công để thờ phượng và nhớ tới Bồ tát lớn lao đang chờ sự chứng ngộ của Ngài cho tới lúc mọi người trên toàn cầu đã đạt đến Nát bàn.

Theo nhà Phật, ý nghĩa của hình tượng Quan Thế Âm là lòng từ bi lớn lao, 1 lòng nhất tâm hướng Phật để cứu khổ cứu nạn chúng sinh lầm than, mang lại bình yên cho mọi gia đình. Phật Bà Quan Âm được tạo tác bằng nhiều chất liệu không giống nhau như: đồng, gỗ, thạch cao,… tất cả đều trình bày sự tự tại, nét mặt từ bi, hiền từ, lúc nhìn vào có cảm giác thư thái và an lành.

Phật tử hiện tại tôn thờ hình tượng Phật Bà Quan Âm với mục tiêu đoàn luyện và phát huy ý thức từ bi, nhẫn nhục của Ngài. Đây là những phẩm giá cần thiết trong cuộc sống ngày nay, trong khi mọi thứ trở thành hỗn loạn và tình mến thương của con người dần bị mai 1.

Lời dạy của Mẹ Quan Thế Âm Bồ tát

Mẹ Quan Thế Âm dạy chúng ta biểu lộ lòng từ bi đối với tất cả mọi người. Ở Tây Tạng, Ngài được biết tới như là Chenrezig, và Đức Đạt Lai Lạt Ma được cho là hiện thân của Ngài.

Đây là 1 phần quan trọng cho ý tưởng Quán Thế Âm tác động tới nền văn hoá và niềm tin của Phật giáo bởi vì ông đã trình bày mình như 1 Bồ tát đại diện cho chính tín ngưỡng và giúp mọi người hiểu được những ý nghĩa.

Mẹ Quan Thế Âm cho chúng ta 1 trong những ý tưởng bự nhất của công đức được trình bày trong truyền thống Phật giáo ấy là từ bi. Nếu ko có từ bi, người ta chẳng thể có bản lĩnh theo chân lý Bồ tát và làm thế nào để sống cuộc sống của họ.

Quan Thế Âm Bồ tát dạy chúng ta sự nhẫn nại cũng như lòng từ bi, Ngài đã từ bỏ cõi Phật và ở lại Vòng Luân Hồi cho tới lúc Ngài giúp mọi sinh vật trên trái đất đạt được Nát bàn. Hạnh nguyện cứu khổ cứu nạn chúng sinh khắp mười phương của Ngài là vô lượng vô biên.

Ngày vía Quan Thế Âm Bồ tát

Trong 1 5 sẽ có 3 ngày vía Bồ tát Quan Thế Âm, ấy là:

  • Ngày 19 tháng 02 âm lịch là ngày Phật Quan Thế Âm Đảng Sinh
  • Ngày 19 tháng 06 âm lịch là ngày Phật Quan Thế Âm thành đạo
  • Ngày 19 tháng 09 âm lịch là ngày Phật Quan Thế Âm xuống tóc

Vào những ngày vía Phật bà Quan Âm, Phật tử khắp nơi trên toàn cầu đều 1 lòng thành kính dâng hương, hoa quả và tổ chức các lễ cúng trang trọng. Họ ăn chay, phóng sinh và tụng Chú Đại Bi để nguyện cầu sự phù trợ hộ trì của Mẹ Quan Thế Âm.

Thần chú nguyện cầu Bồ tát Quan Thế Âm

Thần chú Om Mani Padme Hum là 1 trong những thần chú Phật giáo tầm thường nhất. Thần chú thường được dịch là “viên ngọc trong hoa sen”. Sự giảng giải mang tính biểu trưng của thần chú là sự liên kết của những phẩm giá trí óc (hoa sen) và từ bi (viên ngọc). Câu thần chú này được tìm thấy trong Bát Nhã Tâm Kinh (The Heart Sutra) – 1 trong những kinh điển quan trọng nhất của Phật Giáo Đại Thừa.

Nhạc tụng thần chú Om Mani Padme Hum của Bồ tát Quan Thế Âm

Thần chú này cũng được khắc vào đá để đạt được công đức, như được thấy trên đá Mani ở Tây Tạng. “Om Mani Padme Hum” cũng được ghi văn bản trên bánh xe Mani và sau ấy được quay để đạt được ước mơ, việc quay những bánh xe này được cho là thu thập được cùng 1 số lượng công đức như thể 1 đã lặp đi lặp lại các thần chú mình.

Cách tốt nhất trình bày sự tôn kính của mình với Quan Thế Âm Bồ Tát là niệm thần chú Om Mani Padme Hum hoặc đon giản là niệm danh hiệu của Ngài.

Ích lợi lúc nguyện cầu Quan Thế Âm Bồ Tát là vô biên, nhiều Phật tử thường xuyên nguyện cầu danh hiệu Bồ tát lúc đi du hý xa nhà, lúc gặp chuyện trắc trở, bệnh tật hay tai nạn, hoặc dễ dãi là nguyện cầu cho gia đình bình yên trong cuộc sống phức tạp và đau buồn này.

Tóm lại, Quan Thế Âm là vị Bồ tát phổ độ chúng sinh, trong đa phần các hộ gia đình Phật tử, người ta có thể tìm thấy bức tượng hoặc hình ảnh của Ngài. Điều này thật đúng lúc chúng ta có sự tham khảo trực giác để giúp đạt được 1 tâm não yên ắng trong cuộc hành trình tâm linh của mình.

1 số hình ảnh đẹp của Mẹ Quan Thế Âm

Hoa Sen Phật

Trên đây là nội dung về Quan Thế Âm Bồ tát là người nào? Xuất xứ và ý nghĩa hình tượng được nhiều độc giả ân cần hiện tại. Chúc bạn tích lũy được nhiều tri thức quý báu qua bài viết này!

Xem thêm  Chú Đại Bi là gì? Nguồn gốc, ý nghĩa và công năng 2022

Tham khảo bài khác cùng phân mục: https://muonmau.vn/huyen-bi-tam-linh/minh-triet-thien-dinh

Từ khóa kiếm tìm: Quan Thế Âm Bồ tát là người nào? Xuất xứ và ý nghĩa hình tượng

Thông tin khác

+

Quan Thế Âm Bồ tát là người nào? Xuất xứ và ý nghĩa hình tượng

#Quan #Thế #Âm #Bồ #tát #là #Nguồn #gốc #và #nghĩa #hình #tượng

Quan Thế Âm Bồ tát là người nào? Xuất xứ và ý nghĩa hình tượng
by
Hoa Sen Phật
08/05/2017
in
Kiến Thức 0
Hình như Quan Thế Âm là vị Bồ tát được tôn kính nhất trong các truyền thống Phật giáo. Ngài biểu trưng cho lòng tư bi lớn lao của chư Phật. Thành ra, hàng triệu Phật tử trên khắp toàn cầu thường xuyên nguyện cầu Ngài để mong được gia hộ và mang đến bình yên trong cuộc sống.Mẹ Quan Âm là tên gọi thân yêu của nhiều Phật tử lúc nói về vị Bồ tát từ bi này. Cùng Hoa Sen Phật mày mò về vị Bồ tát tầm thường nhất này nhé!Nội dung bài viết
Quan Thế Âm Bồ tát là người nào?Bồ tát Quan Thế Âm là nam hay nữ?5 Phép thần thông của Bồ tát Quan Thế ÂmTruyền thuyết Quan Âm Diệu Thiện ở Việt NamNguồn gốc của Quan Thế Âm Bồ tát trong kinh điểnTrong Phật giáo Đại thừaTrong Phật giáo Kim cương thừaTrong Phật giáo Nguyên thủyGóc nhìn các nhà nghiên cứu Phật giáo phương Tây về Quan Thế ÂmÝ nghĩa hình tượng của Bồ tát Quan Thế ÂmLời dạy của Mẹ Quan Thế Âm Bồ tátNgày vía Quan Thế Âm Bồ tátThần chú nguyện cầu Bồ tát Quan Thế ÂmMột số hình ảnh đẹp của Mẹ Quan Thế ÂmQuan Thế Âm Bồ tát là người nào?Quan Thế Âm Bồ tát (tiếng Phạn: Avalokitesvara Bodhisattva) là 1 vị Bồ tát trình bày lòng từ bi của tất cả chư Phật. Ngài là 1 trong những vị Bồ Tát được tôn kính phổ quát trong Phật Giáo Đại Thừa. Ở Trung Quốc và những nước tác động nền văn hoá này, Quan Thế Âm thường được mô tả dưới dạng nữ gọi là Guan Yin.Bồ tát Quan Thế Âm còn được biết với tên gọi khác là Quán Thế Âm. Từ “Quán” ở đây có tức là “quán thấy” tất cả chân lý của vũ trụ phê duyệt phép “nhĩ căn viên thông”. Ngài nghe hiểu rõ hết thảy âm thanh của vũ trụ, những lời khóc than và nguyện cầu của chúng sinh. Thành ra, với lòng từ bi vô hạn, Bồ tát Quán Thế Âm nguyện ko nhập Nát bàn lúc vẫn còn chúng sinh đau buồn và lầm than.Tuy nhiên, Quan Thế Âm còn được gọi là Padmapani (“Người giữ hoa sen”) hay Lokaczevara (“Chúa tể của toàn cầu”). Trong tiếng Tây Tạng, Bồ Tát Quan Thế Âm được gọi là Chenrezig, và được cho là nhập thể vào Đức Đạt Lai Lạt Ma, Karmapa và các vị Lạt ma khác.Quan Thế Âm Bồ tát là Bồ tát tuyên trợ đắc lực của Phật A Di Đà ở Tây Phương Cực Lạc, Ngài trình bày lòng Bi, 1 trong 2 dạng Phật tính. Thành ra, danh hiệu của Ngài thường kèm theo từ Đại Bi. Dạng kia của Phật tính là trí óc được Bồ Tát Đại Thế Chí trình bày, bên tay phải của Phật A Di Đà.Với lòng từ bi vô hạn, Quan Thế Âm trình bày sức mạnh cứu giúp mọi chúng sinh quán tưởng tới mình khi gặp nguy hiểm. Trong dương gian, Quan Thế Âm là vị bảo hộ tránh khỏi tai họa và hay được những người nữ giới ko con cầu tự.Bồ tát Quan Thế Âm là nam hay nữ?Lúc tu tập và thực hành Phật pháp, Phật tử ko nên chấp vào hình tướng hay bản lĩnh cứu độ nhưng mà vị Phật hay vị Bồ tát nào ấy mang đến. Vì mỗi vị Phật hay Bồ tát đều đại diện cho những phẩm giá cao quý nhưng mà Phật tử phải tinh tấn tu tập và thực hành để tỉnh ngộ.Bằng công cụ thiện xảo, các vị Phật và Bồ tát đã hóa thân nhiều dạng hình không giống nhau để phổ độ chúng sinh tùy theo căn cơ mỗi người. Tại Việt Nam và các nước Đông Á thì Bồ tát Quan Thế Âm thường được minh họa dưới dạng hình người nữ giới dễ nhìn và giàu lòng từ bi. Còn trong truyền thống Phật giáo ở Tây Tạng và Nepal thì Bồ tát Quan Âm được minh họa dưới dạng hình nam giới.Lúc Phật giáo được truyền sang Trung Quốc, các vị tổ sư đã dùng công cụ thiện xảo cải biến hình tượng Bồ tát Quan Thế Âm sang phụ nữ để thích hợp hơn với nền văn hóa. Với hạnh ngộ từ bi quảng đại, Ngài được xem như “Mẹ hiền Quan Thế Âm Bồ tát của chúng sinh”, người luôn chuẩn bị dang rộng vòng tay để cứu khổ cứu nạn lúc chúng sinh cần đến.
5 Phép thần thông của Bồ tát Quan Thế ÂmTheo kinh điển, Quan Thế Âm Bồ tát có 5 thần thông (hay 5 thứ quán) chính cung ứng Ngài trong việc phổ độ chúng sinh. 5 phép thần thông ấy là:Chân quán: Phát huy hết bản lĩnh của 6 cảm quan, nên Ngài có thể cảm nhận và quán thấy sự thực mọi đau buồn của chúng sinh.Thanh tịnh quán: Bản lĩnh quán chiếu sự thanh tịnh. Sự quán chiếu trong suốt, sự quán chiếu ko còn bị vô minh, khát ái, chấp thủ và nghiệp hữu làm vẩn đục. Và thanh tịnh quán là quán chiếu để thấy rõ bản thể tĩnh mịch ở nơi mọi sự hiện hữu.Quảng đại trí óc quán: Bản lĩnh quán chiếu bằng trí óc bao la, chẳng những thấy tự tánh của 5 uẩn là ko, nhưng mà còn thấy tự thân của mỗi uẩn cũng đều là ko, vốn ko có tự tánh.Từ quán: Bản lĩnh quán chiếu để thực hành hạnh nguyện thương mến bao la, toàn diện và cùng khắp, mang lại sự an lạc cho hết thảy chúng sanh.Bi quán: Bi Quán là bản lĩnh quán chiếu, để thấy rõ thể tánh chơn như giữa chủ thể cứu độ và nhân vật được cứu độ không hề là 2, chúng thiệp nhập vào nhau và nhất thể.Truyền thuyết Quan Âm Diệu Thiện ở Việt NamỞ Việt Nam ta, Quan Thế Âm cũng được biết tới với truyền thuyết Quan Âm Diệu Thiện. Đây là 1 bài thơ được viết theo thể lục bát nói về 1 vị công chúa đi xuống tóc nhằm hóa độ cho vua cha, người đã gây ra nhiều tội ác.Vị vua cha này mong cầu sinh được hoàng tử để nối dõi nhưng mà lại sinh ra 1 cô công chúa thứ 3 nên ông rất ân oán hận. Khác hẳn 2 người chị, nàng công chúa này ngày đêm học Phật và có lòng quy y Phật nhưng mà quyết ko lấy chồng.Sử dụng nhiều mưu mẹo nhưng mà vua cha vẫn chẳng thể ép công chúa hồi tục nên ông đã quyết định xử trảm con gái mình. Ngoài ra, ngay khi ấy bỗng hiện ra 1 con hổ trắng xông ra cõng công chúa đem lại chùa Hương. Diễn ra từ ấy, nàng công chúa tu tập tinh tấn và lấy Pháp danh là Diệu Thiện.Về phần vua cha, ông bị mắc bệnh hủi chẳng thể chữa được, mắt bị mù và thân thể rệu rã. Nghe tin cha mình bị bạo bệnh, Diệu Thiện sao lúc tu hành đắc đạo đã hy sinh 2 mắt cho cha, cứu độ bố mẹ và 2 chị cùng thành Phật.Xuất xứ của Quan Thế Âm Bồ tát trong kinh điểnVới lời thề nguyện lớn lao cũng như công đức hóa độ chúng sinh của Ngài, rất nhiều kinh điển đã nhắc đến tới Bồ tát Quan Thế Âm như 1 tỉ dụ tiêu biểu về lòng từ bi và sự tinh tấn trong tu tập. 1 số kinh điển ấy là: Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm, kinh Vô lượng Thọ, Diệu Pháp Liên Hoa kinh, Đại Bát Nhã 3 la mật đa kinh, Ngũ Bách Danh kinh, Đại Phương Quảng Như Lai tạng kinh…Trong Phật giáo Đại thừaTheo truyền thống Đại Thừa, Quan Thế Âm Bồ Tát là người đã tiến hành 1 lời thề hoàn hảo để lắng tai những lời nguyện cầu của tất cả chúng sinh trong thời khắc gian khổ, và hoãn việc nhập nát bàn cho tới lúc Ngài cung ứng chúng sanh trên trái đất trong việc đạt được tỉnh ngộ.Trong Kinh điển Đại Thừa, Quán Thế Âm hiện ra trong Bát Nhã Tâm Kinh (Heart Sutra – Là đồ đệ của vị Phật lịch sử Thích Ca Mâu Ni) và Kinh Pháp Hoa (Lotus Sutra), đặc trưng là chương 25, nhưng mà đôi lúc được gọi là Kinh Quán Thế Âm.Đặc trưng, trong kinh Bi Hoa có đoạn trình bày lòng từ bi lớn lao của Bồ tát Quan Thế Âm:Về thuở dĩ vãng lâu xa về trước, Đức Quán Thế Âm là 1 vị hoàng thái tử tên là Bất Huyền, con của vua Vô Tránh Niệm, thời đó có Đức Phật có mặt trên thị trường tên là Bảo Tạng Như Lai. Vua Vô Tránh Niệm hết dạ sùng bái đạo Phật. Vua liền mua đủ lễ phẩm quý báu dâng cúng Phật và chư Tăng trong 3 tháng hạ, vua cũng khuyến khích các quan văn, vương tử, vương tôn, triều đình quyến thuộc theo vua cúng dường.Hoàng thái tử Bất Huyền tuân hành vua cha, cũng dâng cúng đủ các trân cam mỹ vị, hết dạ thành kính Đức Phật và chúng Tăng trong 3 tháng tương tự. Khi đó, có vị đại thần tên là Bảo Hải, nghĩa là phụ vương của Phật Bảo Tạng, khuyên hoàng thái tử Bất Huyền nên lập nguyện nhờ công đức cúng dường này nhưng mà cầu quả báu Tối cao Bồ đề, ko nên cầu quả ở cõi trời, cõi người này, vì quả báu phước cõi đó là phước báu hữu hạn, dù chúng ta có lên trời rồi, tới lúc hết phước cũng phải sa đọa. Sao bằng đem công đức cúng dường này hướng về quả báu tối cao bồ đề mới là phước báu sống động vĩnh hằng.Nghe đại thần khuyên tương tự, Hoàng thái tử liền tới trước Phật Bảo Tạng phát đại thệ nguyện: “nguyện xin nhờ công đức cúng dường này cầu quả tối cao bồ đề. Con nguyện xin trong khi tu đạo tự lợi, lợi tha, nếu có chúng sinh nào lâm vào tai nạn, chẳng thể tự cứu chữa được, ko nơi nương nhờ, hễ niệm tới danh hệu con, con liền đủ sức thần thông tới cứu độ ngay. Nếu lời nguyện đó ko thành, con thề ko chứng quả Bồ đề. Con xin phát đại thệ nguyện tu đạo Bồ Tát cho tới tận cùng đời vị lai, trãi qua vô kể kiếp, lúc phụ thân con (vua Vô Tránh Niệm) thành Phật hiệu A Di Đà ở toàn cầu Cực Lạc thì con sẽ làm thị giả phục dịch Ngài cho tới lúc Chánh Pháp Ngài tận diệt con mới chứng quả Bồ đề. Con nguyện xin Đức Thế Tôn và mười phương chư Phật thụ ký cho con tương tự”.Đức Bảo Tạng Như Lai thọ ký cho hoàng thái tử và nói rằng: “Do quán sát chúng sinh trong vô kể toàn cầu đều vì khổ thân nhưng mà phải chịu quả báu đau buồn nên ngươi phát bi tâm, ngươi lại nguyện quan sát nghe được tiêng kêu cầu đau buồn của trần giới để tới cứu độ. Nay ta thọ ký cho ngươi hiệu là Quán Thế Âm. Ngươi sẽ giáo hoá cho vô lượng chúng sinh thoát khỏi khổ não, khi mà tu đạo, ngươi phải làm mọi Phật sự để ích lợi chúng sinh”.Do ấy, sau lúc Phật A Di Đà nhập diệt rồi, cõi Cực Lạc sẽ đổi tên là Nhất Thế Trân Bảo Sở Thành Tựu, càng thêm tốt đẹp hơn trước nữa. Lúc đó, đang khi đêm hôm, trong phút giây, tất cả mọi thứ nghiêm trang đều xuất hiện giữa ko trung, tức thời ngươi thành Phật hiệu là “Biến Xuất Nhất Thế Quang Minh Công Đức Sơn Vương Như Lai, vạn thọ tới 9 mươi 6 ức na do tha kiếp. Sau lúc ngươi diệt độ rồi, chánh pháp sẽ còn lưu truyền lại 6 mươi 3 ức kiếp nữa”.Hoàng thái tử nghe Phật thọ ký rồi, lòng hết sức hoan hỷ và bạch rằng: “như lời nguyện của con được hoàn toàn viên mãn thì đối với con còn hạnh phúc nào bằng. Nay con xin nguyện mười phương chư Phật cũng thọ ký cho con như thế, khiến cho tất cả toàn cầu đều rung rinh như tiếng âm nhạc, người nào nghe cũng được đánh tháo”. Hoàng thái tử bạch rồi, cúi đầu đảnh lễ Đức Phật.Bấy giờ, các toàn cầu thiên nhiên rung rinh, phát ra tiếng hòa nhã như âm nhạc, người nào nghe cũng thân tâm thanh tịnh, dục vọng ko còn. Tiếp ấy là các Đức Phật trong mười phương toàn cầu cũng đồng thanh thọ ký cho Quán Thế Âm Bồ Tát rằng: “Trong thời kiếp Thiên Trú, ở toàn cầu Tân Đề Lam có đức Bảo Tạng Như Lai có mặt trên thị trường, hoàng thái tử Bất Huyền, con vua Vô Tránh Niệm phát tâm cúng Phật và chúng Tăng 3 tháng. Nhờ công đức đó, trãi qua vô kể kiếp về sau, hoàng thái tử sẽ thành Phật hiệu là “Biến Xuất Nhất Thế Công Đức Sơn Vương Như Lai” ở toàn cầu Trân Bảo Sở Thành Tựu.Nghe chư Phật thọ ký xong, hoàng thái tử hoan hỷ hết sức. Từ ấy, trãi qua vô kể kiếp về sau, Ngài tinh tấn tu đạo Bồ Tát, cứu độ tất cả chúng sinh, ko bao giờ quên đại bi tâm của Ngài.Quan Thế Âm là Bồ tát của lòng từ bi, có 6 bề ngoài không giống nhau trong truyền thống Đại Thừa. “Đại bi, lòng từ bi lớn lao, sự can đảm của loài sư tử, ánh sáng phổ thông, vị chỉ đạo giữa các vị thần và nhân loại, và vị đại diện cao cả của Brahman”.Trong Phật giáo Kim cương thừaTrong truyền thống Kim Cương Thừa Tây Tạng, Quan Thế Âm được xem là nảy sinh từ 2 nguồn. 1 là nguồn hơi hơi, nơi nhưng mà kiếp trước (kalpa), 1 tu sĩ Phật giáo với lòng từ bi lớn lao đã biến đổi thành Quan Thế Âm trong kiếp này.Với xuất xứ tối hậu cho rằng, Quán Thế Âm Bồ Tát là biểu lộ tầm thường của lòng từ bi, nên Ngài được xem là 1 “công cụ tư cách” rất thực tiễn cho chúng ta noi theo, dùng cho để mang đến 1 sự hiểu biết tốt hơn về cuộc sống, về tình mến thương giữa con người với con người.Trong Phật giáo Nguyên thủyMặc dù Phật giáo Nguyên Thuỷ (Theravada) ko thờ bất cứ vị Bồ tát nào của Đại Thừa, nhưng mà Quán Thế Âm lại tầm thường ở Miến Điện, nơi Ngài được gọi là Lokanat, và Thái Lan, nơi Ngài được gọi là Lokesvara.Góc nhìn các nhà nghiên cứu Phật giáo phương Tây về Quan Thế ÂmCác học giả phương Tây đã ko đạt được sự đồng thuận về xuất xứ và sự tôn kính đối với Quan Thế Âm Bồ Tát. 1 số người cho rằng Quan Thế Âm, cộng với nhiều vị Bồ tát và chư Phật khác trong Phật giáo là 1 bề ngoài vay mượn của Phật giáo Đại Thừa đối với nhiều vị thần trong Ấn Độ giáo.Họ cho rằng, các vị Bồ tát và rất nhiều chư Phật, đã tạo ra 1 sự tranh chấp đối với thuyết lí Vô ngã của Đức Phật, và là 1 sự tăng trưởng dựa theo ý tưởng của Brahman (Đại ngã – 1 định nghĩa về 1 vị thần tối thượng trong Ấn Độ giáo): Brahma (1 vị thần trong đạo Hindu) hay Lokanātha, “Chúa tể của toàn cầu”.Ý nghĩa hình tượng của Bồ tát Quan Thế ÂmBồ tát Quan Thế Âm thường hiện ra trên trời và chiếu hào quang xuống chúng sinh.Trong các loại tranh tượng về Quan Thế Âm, người ta thấy có 33 dạng, không giống nhau về số đầu, tay và các đặc tính. Thông thường ta thấy tượng Bồ Tát có nghìn tay nghìn mắt, có lúc 11 đầu.Trên đầu có lúc là tượng A-di-đà, có lúc thì thấy Bồ Tát cầm hoa sen hồng, vì thế nên Quan Thế Âm cũng có tên là Liên Hoa Thủ (người cầm hoa sen) hay nhành dương liễu và 1 bình nước Cam Lộ. Số tay của Bồ Tát biểu lộ bản lĩnh cứu độ chúng sinh trong mọi cảnh huống.Quan Thế Âm Bồ Tát có “hào quang” hình tròn trên đầu cho thấy sự vô thường và lớn lao nhất. Điều này có thể cho thấy tầm quan trọng của sự lớn lao và sự hiến dâng của Quan Thế Âm đối với toàn cầu. Hình ảnh này sẽ được sử dụng chủ công để thờ phượng và nhớ tới Bồ tát lớn lao đang chờ sự chứng ngộ của Ngài cho tới lúc mọi người trên toàn cầu đã đạt đến Nát bàn.Theo nhà Phật, ý nghĩa của hình tượng Quan Thế Âm là lòng từ bi lớn lao, 1 lòng nhất tâm hướng Phật để cứu khổ cứu nạn chúng sinh lầm than, mang lại bình yên cho mọi gia đình. Phật Bà Quan Âm được tạo tác bằng nhiều chất liệu không giống nhau như: đồng, gỗ, thạch cao,… tất cả đều trình bày sự tự tại, nét mặt từ bi, hiền từ, lúc nhìn vào có cảm giác thư thái và an lành.Phật tử hiện tại tôn thờ hình tượng Phật Bà Quan Âm với mục tiêu đoàn luyện và phát huy ý thức từ bi, nhẫn nhục của Ngài. Đây là những phẩm giá cần thiết trong cuộc sống ngày nay, trong khi mọi thứ trở thành hỗn loạn và tình mến thương của con người dần bị mai 1.Lời dạy của Mẹ Quan Thế Âm Bồ tátMẹ Quan Thế Âm dạy chúng ta biểu lộ lòng từ bi đối với tất cả mọi người. Ở Tây Tạng, Ngài được biết tới như là Chenrezig, và Đức Đạt Lai Lạt Ma được cho là hiện thân của Ngài.Đây là 1 phần quan trọng cho ý tưởng Quán Thế Âm tác động tới nền văn hoá và niềm tin của Phật giáo bởi vì ông đã trình bày mình như 1 Bồ tát đại diện cho chính tín ngưỡng và giúp mọi người hiểu được những ý nghĩa.Mẹ Quan Thế Âm cho chúng ta 1 trong những ý tưởng bự nhất của công đức được trình bày trong truyền thống Phật giáo ấy là từ bi. Nếu ko có từ bi, người ta chẳng thể có bản lĩnh theo chân lý Bồ tát và làm thế nào để sống cuộc sống của họ.Quan Thế Âm Bồ tát dạy chúng ta sự nhẫn nại cũng như lòng từ bi, Ngài đã từ bỏ cõi Phật và ở lại Vòng Luân Hồi cho tới lúc Ngài giúp mọi sinh vật trên trái đất đạt được Nát bàn. Hạnh nguyện cứu khổ cứu nạn chúng sinh khắp mười phương của Ngài là vô lượng vô biên.Ngày vía Quan Thế Âm Bồ tátTrong 1 5 sẽ có 3 ngày vía Bồ tát Quan Thế Âm, ấy là:Ngày 19 tháng 02 âm lịch là ngày Phật Quan Thế Âm Đảng SinhNgày 19 tháng 06 âm lịch là ngày Phật Quan Thế Âm thành đạoNgày 19 tháng 09 âm lịch là ngày Phật Quan Thế Âm xuất giaVào những ngày vía Phật bà Quan Âm, Phật tử khắp nơi trên toàn cầu đều 1 lòng thành kính dâng hương, hoa quả và tổ chức các lễ cúng trang trọng. Họ ăn chay, phóng sinh và tụng Chú Đại Bi để nguyện cầu sự phù trợ hộ trì của Mẹ Quan Thế Âm.Thần chú nguyện cầu Bồ tát Quan Thế ÂmThần chú Om Mani Padme Hum là 1 trong những thần chú Phật giáo tầm thường nhất. Thần chú thường được dịch là “viên ngọc trong hoa sen”. Sự giảng giải mang tính biểu trưng của thần chú là sự liên kết của những phẩm giá trí óc (hoa sen) và từ bi (viên ngọc). Câu thần chú này được tìm thấy trong Bát Nhã Tâm Kinh (The Heart Sutra) – 1 trong những kinh điển quan trọng nhất của Phật Giáo Đại Thừa.Nhạc tụng thần chú Om Mani Padme Hum của Bồ tát Quan Thế ÂmThần chú này cũng được khắc vào đá để đạt được công đức, như được thấy trên đá Mani ở Tây Tạng. “Om Mani Padme Hum” cũng được ghi văn bản trên bánh xe Mani và sau ấy được quay để đạt được ước mơ, việc quay những bánh xe này được cho là thu thập được cùng 1 số lượng công đức như thể 1 đã lặp đi lặp lại các thần chú mình.Cách tốt nhất trình bày sự tôn kính của mình với Quan Thế Âm Bồ Tát là niệm thần chú Om Mani Padme Hum hoặc đon giản là niệm danh hiệu của Ngài.Ích lợi lúc nguyện cầu Quan Thế Âm Bồ Tát là vô biên, nhiều Phật tử thường xuyên nguyện cầu danh hiệu Bồ tát lúc đi du hý xa nhà, lúc gặp chuyện trắc trở, bệnh tật hay tai nạn, hoặc dễ dãi là nguyện cầu cho gia đình bình yên trong cuộc sống phức tạp và đau buồn này.Tóm lại, Quan Thế Âm là vị Bồ tát phổ độ chúng sinh, trong đa phần các hộ gia đình Phật tử, người ta có thể tìm thấy bức tượng hoặc hình ảnh của Ngài. Điều này thật đúng lúc chúng ta có sự tham khảo trực giác để giúp đạt được 1 tâm não yên ắng trong cuộc hành trình tâm linh của mình.1 số hình ảnh đẹp của Mẹ Quan Thế ÂmHoa Sen PhậtXem thêmThần chú Địa Tạng Vương Bồ Tát tiêu trừ nghiệp chướng Bồ tát là gì? Ý nghĩa của Bồ tát trong Phật giáo Các vị Bồ tát tầm thường trong Phật giáo Bồ đề tâm là gì? Cách nuôi dưỡng và tăng trưởng tâm Bồ đề Văn Thù Sư Lợi Bồ tát là người nào? Xuất xứ, sự tích và biểu trưng Tags: bồ tátbồ tát quan thế âmquan thế âm
Share19Tweet

Xem thêm  Thần chú Bồ tát Kim Cương Thủ dùng để trừ tà ma 2022

Bạn vừa xem nội dung Quan Thế Âm Bồ tát là người nào? Xuất xứ và ý nghĩa hình tượng. Chúc bạn vui vẻ

You may also like

Higher-self là gì? Làm sao để kết nối được với Higher-self?

Trong cơ thể con người chúng ta thường