Tìm hiểu Phật giáo Đại Thừa Cập nhật

Tìm hiểu Phật giáo Đại Thừa Cập nhật

- in Minh Triết Thiền Định
70

Hãy cùng Muôn Màu theo dõi nội dung hay nhất về Mày mò Phật giáo Đại Thừa dưới đây nhé:

Mày mò Phật giáo Đại Thừa


Phật giáo Đại Thừa được gọi là “Bánh xe lớn lao” (Great Vehicle), là vẻ ngoài Phật giáo nổi trội ở Bắc Á, bao gồm Trung Quốc, Mông Cổ, Tây Tạng, Hàn Quốc và Nhật Bản nên còn được gọi là Phật giáo Bắc Tông.

Xuất hành từ những trốn tránh về các thuyết giáo và các luật lệ tu viện trong Phật giáo Ấn Độ vào thế kỷ thứ nhất TCN, Đại Thừa coi mình là 1 bạn dạng chuẩn xác nhất của giáo lý của Đức Phật.

Xuất xứ Phật giáo Đại Thừa

Xuất xứ của Phật Giáo Đại Thừa (Mahayana) vẫn còn mơ hồ, ngày và địa điểm của sự hiện ra ko được biết chi tiết, phong trào có nhiều bản lĩnh tạo nên theo thời kì và ở nhiều nơi. Kinh điển sớm nhất của Phật giáo Đại Thừa là Bát Nhã Tâm Kinh trong kinh Đại Thừa, kinh điển được biên soạn lần trước hết sau lúc Ðức Phật tạ thế 5 thế kỷ.

Như trong các văn kiện Phật giáo đi đầu trước đây, những kinh điển này kiên cố được viết bởi các nhà sư, thể hiện các ý tưởng thông minh của phong trào dưới vẻ ngoài những bài thuyết pháp được Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chuyển giao.

Những vết tích sớm nhất của các tư tưởng Đại Thừa nảy sinh lúc việc dị đồng giữa các chư tăng tại hội đồng thứ 2 Vaishali. Hội đồng này được kêu gọi để lên án những hành vi nhất mực của 1 số nhà sư đã trái với bộ luật về đạo luật của Vinaya. Mặc dầu phần béo các nhà sư đã thành công trong việc xua đuổi các nhà sư phạm sai trái, nhưng mà các nhà sư còn lại đã mâu thuẫn các luật lệ và 1 số góc cạnh của Phật Pháp.

1 nhóm chống lại bất kỳ chỉnh sửa nào, được gọi là Sthaviravadins (Phật giáo Nguyên Thủy, Theravadins) nói rằng, tất cả con người phải quyết tâm để biến thành A-La-Hán, đánh tháo khỏi chu kỳ Tái sinh (cõi Ta-bà, Samsara) để lên cõi Nát bàn.

Họ cho rằng, chư Phật là những người con trai – thuần khiết và dễ ợt, khước từ bất cứ định nghĩa nào về tính siêu hạng của họ. Nhóm khác, phần đông, được biết tới như là Mahasanghikas, có tức là những nhà sư lớn lao. Giống như Sthaviravadins, họ bằng lòng các giáo lý căn bản của Đức Phật như Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, thuyết Vô ngã (Anatta)…Luật nhân quả.

Họ không giống nhau trong việc tin rằng, chư Phật là phi phàm, cuộc sống và quyền hạn của họ là ko giới hạn. Họ cũng tin rằng, thực chất thuở đầu của tâm não là thuần khiết và nó bị ô nhiễm lúc nó bị nhuộm bởi tham ái và phiền não. Chính Mahasanghikas đã xây dựng và tăng trưởng Phật giáo Đại Thừa.

Ý kiến của Phật giáo Đại thừa

Lời giảng dạy quan trọng nhất của Đại Thừa là lòng từ bi lớn lao, 1 thành phần vốn có của sự tỉnh ngộ được trình bày trong Bồ tát (những vị tỉnh ngộ), Người đã trì hoãn Nát bàn (tỉnh ngộ rốt cuộc) để hỗ trợ và chỉ dẫn chúng sanh vẫn đang phải chịu đựng âu sầu trong khoảng luân hồi. Họ dùng cái nhưng Đại Thừa gọi là “công cụ khôn khéo” để biết được năng lực ý thức và tình cảm chi tiết của mỗi tư nhân, từ đấy đưa ra chỉ dẫn thích hợp với những năng lực đấy.

Đại Thừa dạy rằng, bất kỳ người nào cũng có thể khát khao đạt được tỉnh ngộ và biến thành Bồ tát. Đối với đạo Phật Đại Thừa, tỉnh ngộ bao gồm sự hiểu biết thực chất thực thụ của thực tại và tình thương vô biên.


2 môn phái Nguyên Thủy và Đại Thừa có cái nhìn không giống nhau về thuyết giáo Vô ngã. Tư tưởng Đại Thừa mở mang ý tưởng này tới tất cả mọi thứ, rằng ko gì có thực chất và sự còn đó của mỗi vật lệ thuộc vào sự còn đó của những thứ khác.

Bồ tát muốn mày mò thực tại này phê chuẩn sự khôn ngoan (prajna) và tiến hành nó phê chuẩn từ bi (karuna). Họ trông thấy rằng, ko 1 tư nhân nào có “cái tôi”, chẳng thể có sự dị biệt thực thụ giữa bản thân và người khác, và do đấy sự giải phóng của họ ko dị biệt gì với sự giải phóng của tất cả chúng sinh. “Vô ngã” theo Đại Thừa có tức là hiểu được sự vắng mặt của bản ngã hay bản tính trong mọi vật và con người.

Phật giáo Nguyên Thủy và Phật giáo Đại Thừa không giống nhau về ý kiến của họ về mục tiêu rốt cuộc của cuộc sống và cách nhưng nó có thể đạt được. Phật giáo Nam Tông quyết tâm biến thành các vị A La Hán, hoặc những vị thánh tuyệt vời đã đạt được tỉnh ngộ lên cõi Nát bàn. Khi mà những người theo Phật giáo Bắc Tông ko hi vọng biến thành A La Hán, nhưng là những vị Bồ tát, những người đã tỉnh ngộ nhưng mà trì hoãn việc lên cõi Nát bàn để giúp người khác đạt được nó, như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã làm.

Phật giáo Đại Thừa dạy rằng, tỉnh ngộ có thể đạt được trong 1 đời độc nhất vô nhị, và điều này có thể được tiến hành ngay cả bởi 1 người phổ biến.

Những người theo Phật giáo Đại Thừa, có nhẽ đã sai trái lúc khẳng định lý tưởng A La Hán của Phật giáo Nguyên Thủy là ích kỷ vì nó chỉ ân cần tới sự giải phóng cho chính mình.

Các vị A La Hán, dù rằng ko có trí óc cao như của 1 vị Phật, nhưng mà cũng phải vượt qua ý tưởng bản thân và lòng tham để tỉnh ngộ, thành ra 1 sự buộc tội nghe đâu ko có lý. Những người theo Phật giáo Nam Tông cũng cho rằng, đạt được Phật quả là lý tưởng cao nhất nhưng mà nó là gian truân và vượt quá bản lĩnh của gần như mọi người.

1 người đi theo tuyến đường Bồ Tát phải đạt được 6 sự tuyệt vời: ban cho hay rộng lượng, đạo đức hay hành vi tốt, nhẫn nại, tinh tấn, thiền định và trí óc.

bồ tát quan thế âm nghìn tay và nghìn mắt

Các tông phái trong Phật giáo Đại thừa

1. Pháp tướng tông

Tông phái này khởi phát từ 3 vị Vô Trước, Thế Thân và Hộ Pháp, lấy Thành duy thức luận làm gốc, cho rằng vạn pháp đều do thức biến ra. Thức có 8 loại là: nhãn thức, nhĩ thức, vị thức (hay tỉ thức), thiệt thức, thân thức, tinh thần, mạt-na thức và a-lại-da thức. Trong 8 thức đấy, a-lại-da thức là cơ bản.

A-lại-da thức còn gọi là Tạng thức, bao tàng hết các chủng tử, rồi do những chủng tử đấy nhưng nảy sinh ra vạn tượng. Vạn tượng tan thì các chủng tử lại mang nghiệp trở về a-lại-da thức. Chủng tử lại vì nhân duyên nhưng sinh hóa mãi. Vậy nhân duyên là nhân duyên của các chủng tử.

Xem thêm  Các vị Bồ tát phổ biến trong Phật giáo 2022

A-lại-da thức thì chứa hết thảy các chủng tử để sinh khởi nhất quyết chư pháp. Như thế là vạn pháp do thức nhưng biến xuất hiện, bởi vậy nói rằng: “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức.” Ngài Huyền Trang đời Đường sang Ấn Độ theo học với ngài Giới Hiền, rồi đem Pháp tướng tôngvề truyền ở Trung Hoa.

2. Tam luận tông

Tông này lấy Trung luận và Thập nhì môn luận của Bồ-tát Long Thụ và bộ Bách luận của Đề-bà làm cơ bản, nên mới gọi là Tam luận. Tam luận tông cho rằng hết thảy vạn hữu trong hiện tượng giới đều sanh diệt vô thường. Đã sanh diệt vô thường là ko có tự tính, chỉ bởi nhân duyên làm huyễn hoặc nhưng biến hóa ra vạn hữu. Kẻ thế tục vì vọng kiến bởi vậy mới chấp lấy cái có tạm thời đấy.

Bậc chân trí thì ko nhận cái tạm có nhưng thấy rằng hết thảy đều là ko. Các pháp tuy là hiện hữu nhưng mà chẳng phải là thường có. Có nhưng chẳng phải là thường có nghĩa là chỉ tạm có. Tạm có nên tuy là có nhưng chẳng phải là có. Có nhưng chẳng phải là thật có thì cũng chẳng khác gì ko.

Vậy nên các pháp tuy là đều có, nhưng mà thật tướng là ko. Lý thể của chân như tuy là ko tịch, bất sanh bất tử, nhưng mà bởi nó sanh ra các pháp, bởi vậy nó là xuất xứ của cái tạm có. Đã là xuất xứ, thì lý thể của chân như là ko. Như thế, chân như là ko nhưng chẳng phải thật là ko, bởi vậy đối với có ko khác gì. Vì vậy chân như tuy là ko tịch nhưng rõ ràng là có.

Có và ko, ko và có, thật chẳng không giống nhau. Có là có do nơi ko; ko là ko do nơi có. Có và ko 2 bên toàn nhiên hòa hợp với nhau. Thấy rõ chỗ đấy là Trung đạo, là ko vướng mắc vào cả có lẫn ko. Vì sự nhận thức của ta sai trái, nhưng vì thế có ko và có.

Vượt lên trên sự nhận thức thì mới đạt được cái thực tại bất khả tư nghị. Sự nhận thức của ta chỉ nhận thức được trong khuôn khổ hiện tượng nhưng thôi, chẳng thể nhận thức được thực tại. Muốn đạt đến thực tại thì phải nhờ tới trực quan mới được. Tam luận tông lấy kinh Bát-nhã làm gốc, bởi vậy còn gọi là Bát-nhã tông, lúc đối với Pháp tướng tông thì gọi là Tánh tông hay là Ko tông.

3. Thiên thai tông

Tông này phát khởi ở Trung Hoa, do thiền sư Tuệ Văn đời Tần, Tùy lập ra, dựa theo ý nghĩa sách Trí Độ luận và kinh Pháp Hoa làm gốc. Bởi thế còn gọi là Pháp Hoa tông. Thiên thai tông chủ trương thuyết “chư pháp độc nhất vô nhị tâm”. Tâm đấy nghĩa là chúng sanh, tâm đấy nghĩa là Bồ-tát và Phật. Sanh tử cũng ở nơi tâm đấy, Niết-bàn cũng ở nơi tâm đấy.

Thiền sư Tuệ Văn chủ lấy Trung đạo nhưng luận cái tâm và lập ra thuyết “nhất tâm tam quán”. Tam quán là Ko quán, Giả quán và Trung quán. Trong Ko quán có Giả quán và Trung quán, chẳng phải tuyệt nhiên là ko. Trong Giả quán có Ko quán và Trung quán, chẳng phải tuyệt nhiên là giả.

Trung quán là dung nạp cả ko và giả. Chân như với tâm và vật quan hệ với nhau như nước với sóng. Ngoài nước ko có sóng, ngoài chân như ko có tâm, ngoài tâm ko có vật.

Thiên thai tông lấy hiện nay nhưng tìm chỗ lý tưởng. Thiện ác chân vọng đối với tông này chỉ là 1 sự hoạt động của thực tại. Vì vậy bởi vậy ko cưỡng cầu đánh tháo ra ngoài hiện nay giới sanh diệt vô thường. Trong hiện tượng giới gồm cả 2 tính thiện và ác.

Thiện hay ác cũng chỉ do 1 tâm công dụng nhưng thôi. 2 cái, ko có cái nào độc tồn. Bởi thế Phật ko làm lành nhưng cũng ko làm dữ. Sự đánh tháo phải tìm ở nơi thấu suốt chân lý, thoát ly chấp trước. Chỗ rốt cuộc đạt tới là phải triệt ngộ thực tướng của các pháp.

4. Hoa nghiêm tông

Tông này cũng như Thiên thai tông, khởi phát ở Trung Hoa, căn cứ ở kinh Hoa Nghiêm, do hòa thượng Đỗ Thuận và Trí Nghiễm đời Tùy Đường lập ra.

Tông này cho rằng các pháp có 6 tướng: tổng, biệt, đồng, dị, thành, hoại. Gọi chung là “tam đối lục tướng”. Vạn vật đều có 6 tướng đấy. Lúc 6 tướng đấy phát ra thì phân làm Hiện tượng giới và Thực tại giới, và lúc 6 tướng đấy tương xứng nhau thì hiện tượng nghĩa là thực tại, thực tại nghĩa là hiện tượng.

Vạn hữu có “tam đối lục tướng” là do Thập lý duyên khởi. Thập lý và Lục tướng viên dung sinh ra cái lý sự vô ngại. Sự sự vô ngại luận là chỗ rực rỡ nhất trong giáo lý của Hoa nghiêm tông. Theo tông đấy thì phân biệt chân vọng, trừ khử đảo điên làm cho tâm thanh tịnh, để cùng thực tại thống nhất, thế là đánh tháo.

5. Chân ngôn tông

Tông này căn cứ ở kinh Đại Nhật, lấy kín đáo chân ngôn làm tông chỉ, bởi vậy gọi là Chân ngôn tông, hay là Mật tông. Đại Nhật Như Lai truyền cho Kim-cang-tát-đỏa. Kim-cương-tát-đỏa truyền cho Long Thọ, Long Thọ truyền cho Long Trí, Long Trí truyền cho Kim Cương Trí, Kim Cương Trí cộng với Bất Ko vào khoảng đời Đường đem tông này truyền sang Trung Hoa.

Chân ngôn tông chủ trương các thuyết Lục đại là địa, thủy, hỏa, phong, ko, thức, cho 6 đại này là thực thể của vũ trụ. Lục đại xét về bình diện vũ trụ thì gọi là thể đại, xuất hiện hình hài gọi là tướng đại, xuất hiện tiếng nói, động tác gọi là dụng đại. Vạn hữu trong vũ trụ ko có gì ra ngoài thể đại, tướng đại, dụng đại. Gọi là chân như là lấy lý tính do 6 đại nhưng trừu tượng ra. Ngoài 6 đại ra, ko thấy đâu là chân như.

Sự đánh tháo của Chân ngôn tông là ở nơi “tự thân thành Phật”, bởi vậy bỏ hết chấp trược, theo cái hoạt động của Đại ngã. Phương thức đánh tháo của tông này là 3 mật, nghĩa là thân, mồm và ý.

6. Thiền tông

Thiền tông ko luận bàn về vũ trụ, chỉ chủ ở sự cầu được đánh tháo nhưng thôi. Cứu cánh của Thiền tông ko trói buộc nơi văn tự, nên chỉ lấy tâm truyền tâm nhưng thôi. Thực tướng của vũ trụ thuộc về khuôn khổ trực quan. Nếu lấy văn tự nhưng giảng giải thì tất là sa vào hiện tượng giới, chẳng thể đạt đến thật tướng được. Nếu ko tọa thiền dùng trực quan thì chẳng thể biết được thật tướng.

7. Tịnh thổ tông

Tịnh thổ tông lấy sự quy y Tịnh thổ làm mục tiêu, và tụng 3 bài kinh rường cột là kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ và kinh A-di-đà. Tịnh thổ tông phát khởi từ không lẽ ko rõ, chỉ thấy trong các kinh điển nói các vị Bồ-tát Mã Minh, Long Thụ và Thế Thân đều khuyên người ta nên tu Tịnh thổ.

(Hình ảnh: kwanyinbuddha.deviantart.com – Tổng hợp từ vuonhoaphatgiao)

Trên đây là nội dung về Mày mò Phật giáo Đại Thừa được nhiều bạn ân cần ngày nay. Chúc quý độc giả thu được nhiều tri thức quý báu qua bài viết này!

Xem thêm  Ý nghĩa và lợi ích của kinh Địa Tạng Bổn Nguyện Cập nhật

Tham khảo bài khác cùng phân mục: https://muonmau.vn/huyen-bi-tam-linh/minh-triet-thien-dinh

Từ khóa kiếm tìm: Mày mò Phật giáo Đại Thừa

Thông tin khác

+

Mày mò Phật giáo Đại Thừa

#Tìm #hiểu #Phật #giáo #Đại #Thừa

Mày mò Phật giáo Đại Thừa
by
Hoa Sen Phật
19/05/2017
in
Kiến Thức 0
Phật giáo Đại Thừa được gọi là “Bánh xe lớn lao” (Great Vehicle), là vẻ ngoài Phật giáo nổi trội ở Bắc Á, bao gồm Trung Quốc, Mông Cổ, Tây Tạng, Hàn Quốc và Nhật Bản nên còn được gọi là Phật giáo Bắc Tông.Xuất hành từ những trốn tránh về các thuyết giáo và các luật lệ tu viện trong Phật giáo Ấn Độ vào thế kỷ thứ nhất TCN, Đại Thừa coi mình là 1 bạn dạng chuẩn xác nhất của giáo lý của Đức Phật.Nội dung bài viết
Xuất xứ Phật giáo Đại ThừaQuan điểm của Phật giáo Đại thừaCác tông phái trong Phật giáo Đại thừa1. Pháp tướng tông2. Tam luận tông3. Thiên thai tông4. Hoa nghiêm tông5. Chân ngôn tông6. Thiền tông7. Tịnh thổ tôngNguồn gốc Phật giáo Đại ThừaNguồn gốc của Phật Giáo Đại Thừa (Mahayana) vẫn còn mơ hồ, ngày và địa điểm của sự hiện ra ko được biết chi tiết, phong trào có nhiều bản lĩnh tạo nên theo thời kì và ở nhiều nơi. Kinh điển sớm nhất của Phật giáo Đại Thừa là Bát Nhã Tâm Kinh trong kinh Đại Thừa, kinh điển được biên soạn lần trước hết sau lúc Ðức Phật tạ thế 5 thế kỷ.Như trong các văn kiện Phật giáo đi đầu trước đây, những kinh điển này kiên cố được viết bởi các nhà sư, thể hiện các ý tưởng thông minh của phong trào dưới vẻ ngoài những bài thuyết pháp được Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chuyển giao.Những vết tích sớm nhất của các tư tưởng Đại Thừa nảy sinh lúc việc dị đồng giữa các chư tăng tại hội đồng thứ 2 Vaishali. Hội đồng này được kêu gọi để lên án những hành vi nhất mực của 1 số nhà sư đã trái với bộ luật về đạo luật của Vinaya. Mặc dầu phần béo các nhà sư đã thành công trong việc xua đuổi các nhà sư phạm sai trái, nhưng mà các nhà sư còn lại đã mâu thuẫn các luật lệ và 1 số góc cạnh của Phật Pháp.1 nhóm chống lại bất kỳ chỉnh sửa nào, được gọi là Sthaviravadins (Phật giáo Nguyên Thủy, Theravadins) nói rằng, tất cả con người phải quyết tâm để biến thành A-La-Hán, đánh tháo khỏi chu kỳ Tái sinh (cõi Ta-bà, Samsara) để lên cõi Nát bàn.Họ cho rằng, chư Phật là những người con trai – thuần khiết và dễ ợt, khước từ bất cứ định nghĩa nào về tính siêu hạng của họ. Nhóm khác, phần đông, được biết tới như là Mahasanghikas, có tức là những nhà sư lớn lao. Giống như Sthaviravadins, họ bằng lòng các giáo lý căn bản của Đức Phật như Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, thuyết Vô ngã (Anatta)…Luật nhân quả.Họ không giống nhau trong việc tin rằng, chư Phật là phi phàm, cuộc sống và quyền hạn của họ là ko giới hạn. Họ cũng tin rằng, thực chất thuở đầu của tâm não là thuần khiết và nó bị ô nhiễm lúc nó bị nhuộm bởi tham ái và phiền não. Chính Mahasanghikas đã xây dựng và tăng trưởng Phật giáo Đại Thừa.Ý kiến của Phật giáo Đại thừaLời giảng dạy quan trọng nhất của Đại Thừa là lòng từ bi lớn lao, 1 thành phần vốn có của sự tỉnh ngộ được trình bày trong Bồ tát (những vị tỉnh ngộ), Người đã trì hoãn Nát bàn (tỉnh ngộ rốt cuộc) để hỗ trợ và chỉ dẫn chúng sanh vẫn đang phải chịu đựng âu sầu trong khoảng luân hồi. Họ dùng cái nhưng Đại Thừa gọi là “công cụ khôn khéo” để biết được năng lực ý thức và tình cảm chi tiết của mỗi tư nhân, từ đấy đưa ra chỉ dẫn thích hợp với những năng lực đấy.Đại Thừa dạy rằng, bất kỳ người nào cũng có thể khát khao đạt được tỉnh ngộ và biến thành Bồ tát. Đối với đạo Phật Đại Thừa, tỉnh ngộ bao gồm sự hiểu biết thực chất thực thụ của thực tại và tình thương vô biên.
2 môn phái Nguyên Thủy và Đại Thừa có cái nhìn không giống nhau về thuyết giáo Vô ngã. Tư tưởng Đại Thừa mở mang ý tưởng này tới tất cả mọi thứ, rằng ko gì có thực chất và sự còn đó của mỗi vật lệ thuộc vào sự còn đó của những thứ khác.Bồ tát muốn mày mò thực tại này phê chuẩn sự khôn ngoan (prajna) và tiến hành nó phê chuẩn từ bi (karuna). Họ trông thấy rằng, ko 1 tư nhân nào có “cái tôi”, chẳng thể có sự dị biệt thực thụ giữa bản thân và người khác, và do đấy sự giải phóng của họ ko dị biệt gì với sự giải phóng của tất cả chúng sinh. “Vô ngã” theo Đại Thừa có tức là hiểu được sự vắng mặt của bản ngã hay bản tính trong mọi vật và con người.Phật giáo Nguyên Thủy và Phật giáo Đại Thừa không giống nhau về ý kiến của họ về mục tiêu rốt cuộc của cuộc sống và cách nhưng nó có thể đạt được. Phật giáo Nam Tông quyết tâm biến thành các vị A La Hán, hoặc những vị thánh tuyệt vời đã đạt được tỉnh ngộ lên cõi Nát bàn. Khi mà những người theo Phật giáo Bắc Tông ko hi vọng biến thành A La Hán, nhưng là những vị Bồ tát, những người đã tỉnh ngộ nhưng mà trì hoãn việc lên cõi Nát bàn để giúp người khác đạt được nó, như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã làm.Phật giáo Đại Thừa dạy rằng, tỉnh ngộ có thể đạt được trong 1 đời độc nhất vô nhị, và điều này có thể được tiến hành ngay cả bởi 1 người phổ biến.Những người theo Phật giáo Đại Thừa, có nhẽ đã sai trái lúc khẳng định lý tưởng A La Hán của Phật giáo Nguyên Thủy là ích kỷ vì nó chỉ ân cần tới sự giải phóng cho chính mình.Các vị A La Hán, dù rằng ko có trí óc cao như của 1 vị Phật, nhưng mà cũng phải vượt qua ý tưởng bản thân và lòng tham để tỉnh ngộ, thành ra 1 sự buộc tội nghe đâu ko có lý. Những người theo Phật giáo Nam Tông cũng cho rằng, đạt được Phật quả là lý tưởng cao nhất nhưng mà nó là gian truân và vượt quá bản lĩnh của gần như mọi người.1 người đi theo tuyến đường Bồ Tát phải đạt được 6 sự tuyệt vời: ban cho hay rộng lượng, đạo đức hay hành vi tốt, nhẫn nại, tinh tấn, thiền định và trí óc.Các tông phái trong Phật giáo Đại thừa1. Pháp tướng tôngTông phái này khởi phát từ 3 vị Vô Trước, Thế Thân và Hộ Pháp, lấy Thành duy thức luận làm gốc, cho rằng vạn pháp đều do thức biến ra. Thức có 8 loại là: nhãn thức, nhĩ thức, vị thức (hay tỉ thức), thiệt thức, thân thức, tinh thần, mạt-na thức và a-lại-da thức. Trong 8 thức đấy, a-lại-da thức là cơ bản.A-lại-da thức còn gọi là Tạng thức, bao tàng hết các chủng tử, rồi do những chủng tử đấy nhưng nảy sinh ra vạn tượng. Vạn tượng tan thì các chủng tử lại mang nghiệp trở về a-lại-da thức. Chủng tử lại vì nhân duyên nhưng sinh hóa mãi. Vậy nhân duyên là nhân duyên của các chủng tử.A-lại-da thức thì chứa hết thảy các chủng tử để sinh khởi nhất quyết chư pháp. Như thế là vạn pháp do thức nhưng biến xuất hiện, bởi vậy nói rằng: “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức.” Ngài Huyền Trang đời Đường sang Ấn Độ theo học với ngài Giới Hiền, rồi đem Pháp tướng tôngvề truyền ở Trung Hoa.2. Tam luận tôngTông này lấy Trung luận và Thập nhì môn luận của Bồ-tát Long Thụ và bộ Bách luận của Đề-bà làm cơ bản, nên mới gọi là Tam luận. Tam luận tông cho rằng hết thảy vạn hữu trong hiện tượng giới đều sanh diệt vô thường. Đã sanh diệt vô thường là ko có tự tính, chỉ bởi nhân duyên làm huyễn hoặc nhưng biến hóa ra vạn hữu. Kẻ thế tục vì vọng kiến bởi vậy mới chấp lấy cái có tạm thời đấy.Bậc chân trí thì ko nhận cái tạm có nhưng thấy rằng hết thảy đều là ko. Các pháp tuy là hiện hữu nhưng mà chẳng phải là thường có. Có nhưng chẳng phải là thường có nghĩa là chỉ tạm có. Tạm có nên tuy là có nhưng chẳng phải là có. Có nhưng chẳng phải là thật có thì cũng chẳng khác gì ko.Vậy nên các pháp tuy là đều có, nhưng mà thật tướng là ko. Lý thể của chân như tuy là ko tịch, bất sanh bất tử, nhưng mà bởi nó sanh ra các pháp, bởi vậy nó là xuất xứ của cái tạm có. Đã là xuất xứ, thì lý thể của chân như là ko. Như thế, chân như là ko nhưng chẳng phải thật là ko, bởi vậy đối với có ko khác gì. Vì vậy chân như tuy là ko tịch nhưng rõ ràng là có.Có và ko, ko và có, thật chẳng không giống nhau. Có là có do nơi ko; ko là ko do nơi có. Có và ko 2 bên toàn nhiên hòa hợp với nhau. Thấy rõ chỗ đấy là Trung đạo, là ko vướng mắc vào cả có lẫn ko. Vì sự nhận thức của ta sai trái, nhưng vì thế có ko và có.Vượt lên trên sự nhận thức thì mới đạt được cái thực tại bất khả tư nghị. Sự nhận thức của ta chỉ nhận thức được trong khuôn khổ hiện tượng nhưng thôi, chẳng thể nhận thức được thực tại. Muốn đạt đến thực tại thì phải nhờ tới trực quan mới được. Tam luận tông lấy kinh Bát-nhã làm gốc, bởi vậy còn gọi là Bát-nhã tông, lúc đối với Pháp tướng tông thì gọi là Tánh tông hay là Ko tông.3. Thiên thai tôngTông này phát khởi ở Trung Hoa, do thiền sư Tuệ Văn đời Tần, Tùy lập ra, dựa theo ý nghĩa sách Trí Độ luận và kinh Pháp Hoa làm gốc. Bởi thế còn gọi là Pháp Hoa tông. Thiên thai tông chủ trương thuyết “chư pháp độc nhất vô nhị tâm”. Tâm đấy nghĩa là chúng sanh, tâm đấy nghĩa là Bồ-tát và Phật. Sanh tử cũng ở nơi tâm đấy, Niết-bàn cũng ở nơi tâm đấy.Thiền sư Tuệ Văn chủ lấy Trung đạo nhưng luận cái tâm và lập ra thuyết “nhất tâm tam quán”. Tam quán là Ko quán, Giả quán và Trung quán. Trong Ko quán có Giả quán và Trung quán, chẳng phải tuyệt nhiên là ko. Trong Giả quán có Ko quán và Trung quán, chẳng phải tuyệt nhiên là giả.Trung quán là dung nạp cả ko và giả. Chân như với tâm và vật quan hệ với nhau như nước với sóng. Ngoài nước ko có sóng, ngoài chân như ko có tâm, ngoài tâm ko có vật.Thiên thai tông lấy hiện nay nhưng tìm chỗ lý tưởng. Thiện ác chân vọng đối với tông này chỉ là 1 sự hoạt động của thực tại. Vì vậy bởi vậy ko cưỡng cầu đánh tháo ra ngoài hiện nay giới sanh diệt vô thường. Trong hiện tượng giới gồm cả 2 tính thiện và ác.Thiện hay ác cũng chỉ do 1 tâm công dụng nhưng thôi. 2 cái, ko có cái nào độc tồn. Bởi thế Phật ko làm lành nhưng cũng ko làm dữ. Sự đánh tháo phải tìm ở nơi thấu suốt chân lý, thoát ly chấp trước. Chỗ rốt cuộc đạt tới là phải triệt ngộ thực tướng của các pháp.4. Hoa nghiêm tôngTông này cũng như Thiên thai tông, khởi phát ở Trung Hoa, căn cứ ở kinh Hoa Nghiêm, do hòa thượng Đỗ Thuận và Trí Nghiễm đời Tùy Đường lập ra.Tông này cho rằng các pháp có 6 tướng: tổng, biệt, đồng, dị, thành, hoại. Gọi chung là “tam đối lục tướng”. Vạn vật đều có 6 tướng đấy. Lúc 6 tướng đấy phát ra thì phân làm Hiện tượng giới và Thực tại giới, và lúc 6 tướng đấy tương xứng nhau thì hiện tượng nghĩa là thực tại, thực tại nghĩa là hiện tượng.Vạn hữu có “tam đối lục tướng” là do Thập lý duyên khởi. Thập lý và Lục tướng viên dung sinh ra cái lý sự vô ngại. Sự sự vô ngại luận là chỗ rực rỡ nhất trong giáo lý của Hoa nghiêm tông. Theo tông đấy thì phân biệt chân vọng, trừ khử đảo điên làm cho tâm thanh tịnh, để cùng thực tại thống nhất, thế là đánh tháo.5. Chân ngôn tôngTông này căn cứ ở kinh Đại Nhật, lấy kín đáo chân ngôn làm tông chỉ, bởi vậy gọi là Chân ngôn tông, hay là Mật tông. Đại Nhật Như Lai truyền cho Kim-cang-tát-đỏa. Kim-cương-tát-đỏa truyền cho Long Thọ, Long Thọ truyền cho Long Trí, Long Trí truyền cho Kim Cương Trí, Kim Cương Trí cộng với Bất Ko vào khoảng đời Đường đem tông này truyền sang Trung Hoa.Chân ngôn tông chủ trương các thuyết Lục đại là địa, thủy, hỏa, phong, ko, thức, cho 6 đại này là thực thể của vũ trụ. Lục đại xét về bình diện vũ trụ thì gọi là thể đại, xuất hiện hình hài gọi là tướng đại, xuất hiện tiếng nói, động tác gọi là dụng đại. Vạn hữu trong vũ trụ ko có gì ra ngoài thể đại, tướng đại, dụng đại. Gọi là chân như là lấy lý tính do 6 đại nhưng trừu tượng ra. Ngoài 6 đại ra, ko thấy đâu là chân như.Sự đánh tháo của Chân ngôn tông là ở nơi “tự thân thành Phật”, bởi vậy bỏ hết chấp trược, theo cái hoạt động của Đại ngã. Phương thức đánh tháo của tông này là 3 mật, nghĩa là thân, mồm và ý.6. Thiền tôngThiền tông ko luận bàn về vũ trụ, chỉ chủ ở sự cầu được đánh tháo nhưng thôi. Cứu cánh của Thiền tông ko trói buộc nơi văn tự, nên chỉ lấy tâm truyền tâm nhưng thôi. Thực tướng của vũ trụ thuộc về khuôn khổ trực quan. Nếu lấy văn tự nhưng giảng giải thì tất là sa vào hiện tượng giới, chẳng thể đạt đến thật tướng được. Nếu ko tọa thiền dùng trực quan thì chẳng thể biết được thật tướng.7. Tịnh thổ tôngTịnh độ tông lấy sự quy y Tịnh thổ làm mục tiêu, và tụng 3 bài kinh rường cột là kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ và kinh A-di-đà. Tịnh thổ tông phát khởi từ không lẽ ko rõ, chỉ thấy trong các kinh điển nói các vị Bồ-tát Mã Minh, Long Thụ và Thế Thân đều khuyên người ta nên tu Tịnh thổ.(Hình ảnh: kwanyinbuddha.deviantart.com – Tổng hợp từ vuonhoaphatgiao)Bài liên can sẽ được cập nhật sau! Tags: phật giáo bắc tôngphật giáo đại thừa
Share44Tweet

Xem thêm  Cõi tịnh độ là gì? Tìm hiểu Phật giáo Tịnh độ tông hay nhất

Bạn vừa xem nội dung Mày mò Phật giáo Đại Thừa. Chúc bạn vui vẻ

You may also like

Quan Thế Âm Bồ tát là ai? Nguồn gốc và ý nghĩa hình tượng 2022

Hãy cùng Muôn Màu theo dõi nội dung